Login Form

Số Người Truy cập

1980158
Today
Yesterday
This Week
Last Week
This Month
Last Month
All days
320
1437
8420
325378
24441
34845
1980158

Your IP: ::1
2018-09-23 06:03

Kiến Thức Y Học

BỆNH & KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ BỆNH

BỆNH HỌC & PHƯƠNG PHÁP PHÒNG - CHỮA BỆNH

A. Phần thứ nhất

Một số khái niệm_thuật ngữ trong Y_học

alt

1. Khái niệm

a. Y - học là gì ?
      Y học là khoa học và nghệ thuật chữa bệnh, bao gồm nhiều phương pháp chăm sóc sức khỏe nhằm duy trì, hồi phục cơ thể từ việc phòng ngừa và chữa bệnh.

he thong tuan hoan mau
b. Bệnh là gì? Bệnh là những bất thường xảy ra ở cơ thể sống làm ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển bình thường của sinh vật.

Read More

 

Có 6 nhóm nguyên nhân gây nên bất thường ở cơ thể người là:
. Bẩm sinh. Nguyên nhân bẩm sinh chủ yếu do cơ thể bố hoặc mẹ bị bệnh trước hoặc trong khi mang thai, nguyên nhân bẩm sinh rất hiếm gặp.
. Hóa chất. Nguyên nhân này xảy ra bởi một hoặc cả hai trường hợp: Thiếu chất dinh dưỡng hoặc nhiễm nhiều chất độc.
. Nhiễm các vi sinh vật có hại.
. Sự tác động bất lợi của các yêu tố vật lý . Nguyên nhân này cũng thường xảy ra.
. Do áp lực của tâm trạng xã hội.
. Do tác động của các hiện tượng siêu nhiên.

tang l 3

Hậu quả của việc bệnh

2. Thuật ngữ trong Y_Học

a. Nội khoa: Nội khoa là phân ngành trong y khoa liên quan đến việc chẩn đoán và điều trị không phẫu thuật các bệnh của cơ quan bên trong cơ thể, đặc biệt là ở người lớn.

Các chuyên ngành của nội khoa
- Huyết học
- Nội tiết
- Hô hấp
- Tiết niệu
- Xương khớp
- Tiêu hoá
- Tim mạch
- Truyền nhiễm
- Ung bướu...

b. Ngoại khoa: Ngoại khoa là phân ngành trong y khoa liên quan đến điều trị bệnh hoặc tổn thương bằng phẫu thuật.

Các chuyên ngành của ngoại khoa
- Phẫu thuật chỉnh hình
- Ghép cơ quan
- Phẫu thuật mạch máu
- Nhãn khoa
- Niệu khoa
- Phẫu thuật nhi
- Tai mũi họng
- Phẫu thuật tạo hình
- Phẫu thuật thần kinh
- Phẫu thuật tim - lồng ngực
- Phẫu thuật tổng quát
- Reply With Quote.

Kết luận: Ngoại khoa là tác động dao kéo bên ngoài trực tiếp vào bệnh nhân, còn nội khoa là dùng thuốc kích thích cơ thể chống lại bệnh tật.


alt

c. Máu : Máu là một tổ chức di động được tạo thành từ thành phần hữu hình là các tế bào (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và huyết tương. Chức năng chính của của máu là cung cấp các chất nuôi dưỡng và cấu tạo các tổ chức cũng như loại bỏ các chất thải trong quá trình chuyển hóa của cơ thể như khí carbonic và acid lactic.

....................................

B. Phần thứ hai

Bệnh tim mạch & Nguyên nhân gây bệnh

1. Bệnh Tim Mạch: Bệnh tim mạch bao gồm các bệnh có liên quan đến các mạch máu (tĩnh mạch, động mạch và mao mạch) hoặc tim, hoặc cả hai bệnh có ảnh hưởng đến hệ thống tim mạch.

     Hệ thống tim mạch, còn được gọi là hệ thống tuần hoàn, là hệ thống di chuyển máu đi khắp cơ thể con người. Nó bao gồm tim, động mạch, tĩnh mạch, và mao mạch. Nó vận chuyển máu oxy từ phổi và trái tim trong suốt toàn bộ cơ thể thông qua các động mạch. Máu đi qua các mao mạch tàu nằm giữa tĩnh mạch và động mạch. Khi máu đã bị cạn kiệt oxy, nó làm theo cách của mình trở lại tim và phổi thông qua các tĩnh mạch. Hệ thống tuần hoàn cũng có thể bao gồm việc lưu thông bạch huyết, chủ yếu là tái chế huyết tương sau khi nó đã được lọc từ các tế bào máu và quay trở lại hệ thống bạch huyết. Hệ thống tim mạch không bao gồm hệ bạch huyết. Trong bài viết này, hệ thống tuần hoàn không bao gồm việc lưu thông của bạch huyết.
      Theo Medilexicon từ điển y khoa , tim mạch có nghĩa là: "Liên quan đến tim và các mạch máu lưu thông", hệ thống tuần hoàn của con người.

alt

Ví dụ về các bệnh có ảnh hưởng đến hệ thống tim mạch, bệnh tim mạch (bệnh tim):

- Đau thắt ngực (được coi như là một bệnh tim và mạch máu).
- Chứng loạn nhịp tim (vấn đề với nhịp tim, nhịp tim bất thường).
- Bệnh tim bẩm sinh.
- bệnh động mạch vành (CAD).
- Dilated bệnh cơ tim.
- Nhồi máu cơ tim (nhồi máu cơ tim).
- Suy tim.
- phì đại cơ tim.
- Hai lá trào ngược.
- Sa van hai lá.
- Phổi hẹp.

     Bệnh mạch máu (bệnh ảnh hưởng đến các mạch máu động mạch, tĩnh mạch hoặc mao mạch), ví dụ bao gồm:

- Xơ vữa động mạch
- Bệnh động mạch thận.
- bệnh Raynaud (Raynaud hiện tượng).
- Bệnh Buerger.
- Bệnh tĩnh mạch ngoại vi.
- Rung tâm nhĩ- được biết đến như là một loại của bệnh mạch máu não
- Cục máu đông tĩnh mạch.
- Bloodclotting rối loạn.

2. Yếu tố - Nguy cơ đối với bệnh tim mạch là gì?

     Yếu tố nguy cơ là một cái gì đó làm tăng cơ hội của bạn phát triển một căn bệnh, rối loạn hay điều kiện. Béo phì là một yếu tố nguy cơ bệnh tiểu đường loại 2. Các nhà nghiên cứu từ Đại học Northwestern Feinberg School of Medicine báo cáo trong JAMA nguy cơ suốt đời đối với bệnh tim mạch là hơn 50% cho cả nam giới và phụ nữ . Họ nói thêm rằng ngay cả trong số những người có ít hoặc không có yếu tố nguy cơ tim mạch, nguy cơ vẫn còn hơn 30%. Theo Dịch vụ Y tế Quốc gia (NHS), Vương quốc Anh, có chín yếu tố nguy cơ chính liên quan đến bệnh tim mạch, đó là:

Tăng huyết áp ( huyết áp cao ):

     Đây là một trong những yếu tố nguy cơ chính gây bệnh tim mạch cho đến nay. Nếu tăng huyết áp khó kiểm soát, thành động mạch có thể trở nên hư hỏng, làm tăng nguy cơ phát triển một cục máu đông.

Xạ trị

     Các nhà khoa học từ Karolinska Institutet, Thụy Điển, báo cáo trong Tạp chí American College of Cardiology xạ trị có thể làm tăng nguy cơ của bệnh tim mạch sau này trong đời.

Hút thuốc

     Thường xuyên hút thuốc lá có thể thu hẹp các mạch máu, đặc biệt là động mạch vành.

Thiếu ngủ

     Những người ngủ ít hơn 7,5 giờ mỗi ngày có nguy cơ cao phát triển bệnh tim mạch , các nhà nghiên cứu từ Đại học Y khoa Jichi, Tochigi, Nhật Bản, báo cáo trong Archives of Internal Medicine.

Tăng mỡ máu ( cholesterol trong máu cao ):

     Có một cơ hội thu hẹp các mạch máu và cục máu đông cao hơn.

Có một đối tác với ung thư :

     Một người có đối tác có ung thư có nguy cơ cao hơn gần 30% phát triển đột quỵ hoặc bệnh tim mạch vành , các nhà điều tra từ trung tâm Nghiên cứu chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại Malmo, Thụy Điển, đã tiết lộ trong tạp chí Circulation.

Bệnh tiểu đường:

     Điều này bao gồm cả hai loại 1 và 2. Lượng đường trong máu cao có thể gây hại cho động mạch. Những người bị bệnh tiểu đường loại 2 thường thừa cân hoặc béo phì, mà cũng là yếu tố nguy cơ đối với bệnh tim mạch. Những người bị tiểu đường có 2 đến 4 lần nhiều khả năng chết do bệnh tim hơn những người không bị bệnh tiểu đường. Các chuyên gia nói rằng đường huyết đo kiểm soát có thể giúp dự đoán nguy cơ mắc bệnh tim mạch của một bệnh nhân tiểu đường.

Ăn uống không lành mạnh:

     Chế độ ăn uống cao trong chất béo kết hợp với carbohydrate , đặc biệt là nếu họ bao gồm chủ yếu là các loại thức ăn nhanh, có thể đẩy nhanh sự tích tụ các mảng chất béo bên trong động mạch, tăng nguy cơ cao huyết áp, béo phì và tăng lipid máu. Chế độ ăn uống thiếu đầy đủ trái cây, rau quả, chất xơ, ngũ cốc nguyên hạt và các chất dinh dưỡng cần thiết không phải là tốt cho sức khỏe tim mạch. Một nghiên cứu được công bố trong BMC Medicine (Tháng 3 năm 2013 vấn đề) thấy rằng tiêu thụ thịt chế biến có liên quan đến phát triển bệnh tim mạch và ung thư .

Hoạt động thể chất:

     Những người chủ yếu sống một cuộc sống ít vận động có xu hướng có huyết áp cao hơn, nhiều kích thích tố căng thẳng, lượng cholesterol trong máu cao hơn, và có nhiều khả năng bị thừa cân.

Đây là tất cả các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch:

Uống quá nhiều rượu - những người uống quá nhiều có xu hướng có huyết áp cao và lượng cholesterol trong máu.
Stress - hoóc môn liên quan (tâm thần) căng thẳng, chẳng hạn như cortisone, làm tăng lượng đường trong máu. Căng thẳng cũng liên quan đến huyết áp cao.

Ô nhiễm không khí - Belgian nhà nghiên cứu báo cáo trong tạp chí The Lancet rằng ô nhiễm không khí gây ra khoảng cùng một số cơn đau tim như các yếu tố nguy cơ cá nhân khác . Các nhà nghiên cứu đánh giá 36 nghiên cứu riêng biệt, tập trung vào ô nhiễm không khí.

COPD và giảm chức năng phổi - một nghiên cứu được trình bày tại Đại hội thường niên của Hiệp hội hô hấp châu Âu ở Amsterdam, cho thấy rằng những người bị COPD (bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính) có nguy cơ phát triển bệnh tim mạch . Các nhà nghiên cứu từ Bệnh viện Sunderby ở Thụy Điển, nói thêm rằng những bệnh nhân có giảm chức năng phổi cũng có nguy cơ cao.

Tuổi đầu tiên chu kỳ kinh nguyệt - những phụ nữ bắt đầu có kinh nguyệt sớm có nhiều khả năng trở nên béo phì, và có các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch , các nhà nghiên cứu báo cáo trong tạp chí Journal of Clinical Endocrinology & Metabolism.

     Những người có một trong những yếu tố nguy cơ tim mạch, thường có một hoặc hai người khác quá. Ví dụ, người rất béo phì thường có huyết áp cao, cholesterol cao trong máu, và bệnh tiểu đường loại 2.
Các chuyên gia đồng ý rằng các yếu tố nguy cơ thường gặp nhất đối với bệnh tim mạch là xơ vữa động mạch và / hoặc tăng huyết áp.

-----------------------------------------------------

Tiếp tục bàn về:

BỆNH TIM MẠCH

     Trái tim con người to cỡ 1 nắm tay và nặng khoảng 300g. Tim bơm Oxy và máu đến các cơ quan trong cơ thể của chún ta qua các mạch máu. Bệnh tim mạch là từ chung miêu tả các bệnh ảnh hưởng đến tim và các mạch máu.

     Bệnh tim mạch ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng của tim và các mạch máu, là thủ phạm gây ra các vấn đề nghiêm trọng về sức khoẻ. Gián đoạn hoặc không cung cấp đủ Oxy đến các cơ quan trong cơ thể làm các cơ quan nội tạng bị phá huỷ hoặc thậm chí gây ra chết người. Nếu bị bệnh tim mạch, tim và não có nguy cơ bị ảnh hưởng cao. 1 số bệnh tiêu biểu:

     ++ Huyết áp cao: Huyết áp cao xuất hiện khi máu được đẩy đi trong mạch máu với áp suất cao. Khi huyết áp lên cao, thành mạch trở nên yếu và có thể gây ra các biến chứng như đột quỵ hay cơn đau tim.

     ++ Đột quỵ: Đột quỵ khi một động mạch, cơ quan mang máu và ô-xy đến một phần nào đấy của tim bị chặn lại. Không có ô-xy, phần cơ này của tim không hoạt động và sẽ có cảm giác đau ở ngực.

alt

Bệnh tim mạch là gì ?

     ++ Suy tim: Tim khoẻ mạnh sẽ bơm máu đến khắp cơ thể. Một quả tim yếu sẽ không đủ khả năng làm việc bơm máu này một cách hiệu quả. Khi tim không bơm đủ máu, sẽ bị suy tim.

     ++ Bệnh động mạch vành: Ảnh hưởng đến các mạch máu cung cấp máu cho cơ tim. Nếu động mạch bị nghẽn và dòng máu đưa vào tìm bị hạn chế, có thể gây ra cơn đau tim đột qụy, bệnh động mạch vành cũng có thể gây ra cơn đau ngực (chứng đau thắt ngực).

     ++ Xơ vữa động mạch: Khi các mạch máu bị tắc bởi sự tích tụ cholesterol, chất béo và can-xi (còn được biết đến như là những mảng bám), đây chính là điều kiện dẫn đến bệnh xơ vữa động mạch. Những mảng bám tạo thành trên thành của mạch máu, mạch máu trở nên kém mềm dẻo, và sự lưu thông trong mạch máu cũng kém hơn, làm dòng máu khó chảy qua. Đột quỵ hay cơn đau tim có thể xuất hiện nếu sự tích tụ mảng bám trở nên dày và mạch máu bị tắc nghẽn nên dòng máu không thể chảy qua được.

... ... ... ... ...

P/s: Để hiểu biết thêm về các bệnh khác huyết áp, tăng xông, trụy tim, đột quy, các bệnh về tim, thần kinh, xương khớp; cơ chế, nguyên nhân phát sinh tật bệnh; cách phòng ngừa...

     Chúng tôi xin trân trọng kính mời bạn đọc vào đường link phía dưới để xem chi tiết các bài viết trong diễn đàn của website võ thuật Thiều gia.

http://forum.thaicucthieugia.com/showthread.php?1805-KI%E1%BA%BFn-th%E1%BB%A9c-Y_H%E1%BB%8Dc

 --------------------------

Tp. HCM, ngày 05/4/2013
Backieuphong sưu tầm, Fangzi biên soạn và giới thiệu.

Hình Ảnh Mới Nhất

  • Hun-luyn-s-dng-CCHT-2.JPG
  • IMG_0167.JPG
  • IMG_0195.JPG
  • IMG_0213.JPG
  • IMG_0417.JPG
  • Thiu-t-v-s-Thiu-Ngc-Sn-2.jpg
  • Thy--Vng.JPG
  • V-s-Thiu-Ngc-11.JPG
  • V-s-Thiu-Ngc-Sn-5.JPG
  • V-s-Thiu-Ngc-Sn-15.JPG
  • Vng-2.JPG